Sơ đồ mạch điện xe nâng điện trông như một mớ đường kẻ chằng chịt, nhưng thực chất luôn chia được thành bốn khối cố định: công suất, điều khiển, an toàn và phụ. Đọc đúng theo khối, bạn khoanh vùng được lỗi nhanh hơn nhiều so với dò từng đường dây một.
Nhiều chủ xe và cả vài thợ cơ khí quen tay ngại nhìn vào sơ đồ mạch điện, vì tờ giấy đó chỉ toàn đường kẻ và ký hiệu khô khan. Việt Cường có xưởng sửa chữa riêng, chuyên xe nâng điện, nên đọc sơ đồ là việc chúng tôi làm hằng ngày. Bài này giúp bạn, dù là thợ bảo trì trong nhà máy hay chủ xe muốn hiểu xe mình trước khi gọi thợ, đọc được một sơ đồ theo đúng cách người thợ đọc. Nếu chưa quen mặt các bộ phận chính của xe nâng, bạn xem thêm bài cấu tạo xe nâng và các bộ phận chính chúng tôi đã viết riêng.
Xem Nhanh (Mục Lục)
Sơ đồ mạch điện xe nâng điện chia được thành bốn khối
Một chiếc xe nâng điện luôn cần bốn nhóm mạch làm bốn việc khác nhau: đưa điện lớn ra làm xe chạy và nâng, nhận lệnh từ người lái, canh các điều kiện an toàn trước khi cho hai nhóm trên hoạt động, và lo đèn, còi, đồng hồ. Tài liệu kỹ thuật của các hãng xe nâng cũng tổ chức theo đúng cách này: tách riêng sơ đồ cho từng hệ thống, riêng trang ghi vị trí rơ le, riêng danh sách giắc nối. Bảng dưới tóm tắt bốn khối đó trước khi đi sâu vào từng phần.
| Khối mạch | Thành phần chính | Triệu chứng khi khối này có lỗi |
|---|---|---|
| Mạch công suất | Bình ắc quy, cầu chì chính, công tắc tơ chính, bộ điều khiển, motor kéo, motor bơm thủy lực | Xe không chạy và không nâng dù đã bật nguồn, nghe tiếng tách mà xe không nhúc nhích, cầu chì đứt liên tục |
| Mạch điều khiển | Khóa điện, cần số tiến lùi, chân ga, cảm biến tốc độ, bộ điều khiển | Xe chạy giật, chỉ đi được một chiều, đạp ga mà xe không nhận lệnh |
| Mạch an toàn và khóa liên động | Công tắc ghế, phanh tay, nút dừng khẩn cấp, công tắc hành trình khung nâng | Xe đứng im hoặc tự ngắt dù phần động lực và điều khiển vẫn tốt |
| Mạch phụ | Đèn, còi, đồng hồ hoặc màn hình hiển thị | Đèn báo sai, còi không kêu, mất hiển thị nhưng xe vẫn chạy và nâng bình thường |
Khối mạch công suất, nơi điện lớn chảy qua
Mạch công suất là nơi dòng điện lớn nhất trên xe chạy qua. Bắt đầu từ bình ắc quy, điện đi qua cầu chì chính bảo vệ cả đường dây, tới công tắc tơ chính đóng vai trò cái ngắt điện cỡ lớn, rồi vào bộ điều khiển để chia dòng xuống hai motor chính: motor kéo cho xe chạy, motor bơm cho hệ thủy lực nâng hạ. Dây của khối này trên sơ đồ thường vẽ đậm hơn, vì phải chịu dòng đủ để kéo cả xe mang tải.
Hỏng ở bất kỳ điểm nào trong khối này đều gây hậu quả nặng. Cầu chì chính đứt thì cả xe mất điện động lực, và vết đứt còn kể lại được xe đã chịu dòng kiểu gì trước đó, Việt Cường nói riêng chuyện này trong bài cầu chì xe nâng điện đứt. Công tắc tơ chính kẹt tiếp điểm còn nguy hiểm hơn, vì xe có thể tự chạy ngay khi vừa bật khóa mà không ai đạp ga. Bộ điều khiển (board) cũng dễ hiểu nhầm, vì khi lỗi, biểu hiện ra ngoài giống lỗi cơ khí, xem thêm bài sửa chữa board xe nâng điện.
Khối mạch điều khiển, nơi tín hiệu nhỏ ra lệnh
Nếu mạch công suất là nơi điện làm việc nặng, mạch điều khiển là nơi điện chỉ dùng để ra lệnh, dòng rất nhỏ, chỉ đủ mang tín hiệu, không đủ làm quay bất cứ motor nào. Thành phần của khối gồm khóa điện, cần chọn hướng tiến lùi, chân ga, cảm biến tốc độ hoặc cảm biến vị trí, tất cả đều nối về bộ điều khiển.
Người lái gạt cần số, đạp ga, bộ điều khiển đọc các tín hiệu đó rồi mới ra lệnh cho khối công suất cấp đúng dòng điện xuống motor. Chính vì đi qua một khâu tín hiệu như vậy, một cảm biến rơ hoặc một tiếp điểm mòn trong khối điều khiển có thể làm xe biểu hiện giống hệt hỏng động lực, trong khi bình, công tắc tơ, motor đều còn nguyên. Nhầm khối, bạn sẽ đo nhầm chỗ, tốn công tháo cả cụm nặng chỉ để tìm ra vấn đề nằm ở một cọc tiếp điểm nhỏ.
Khối mạch an toàn và khóa liên động, điều kiện đủ để xe được chạy
Khối này không ra lệnh cho xe chạy, nó chỉ canh xem các điều kiện an toàn đã đủ chưa, rồi mới cho hai khối trên được hoạt động. Thành phần thường gặp là công tắc ghế báo người lái đã ngồi đúng vị trí, phanh tay, nút dừng khẩn cấp, và công tắc hành trình ở khung nâng báo giới hạn nâng hạ hoặc nghiêng khung.
Cách đấu phổ biến của khối này là nối tiếp nhau trên cùng một nhánh tín hiệu: tất cả công tắc phải cùng ở trạng thái an toàn thì nhánh mới thông, bộ điều khiển mới nhận lệnh cho xe chạy hoặc nâng. Chỉ một công tắc chưa thỏa điều kiện, cả nhánh bị khóa, dù phần cơ khí và động lực hòan toàn tốt. Cách đấu này giải thích được khá nhiều ca tưởng lạ: xe đang chạy ngon, người lái đứng dậy khỏi ghế một chút để chỉnh hàng, quay lại ngồi xe không chạy nữa, không phải vì xe hỏng mà vì mạch an toàn đang làm đúng việc của nó.
Khối mạch phụ, đèn còi đồng hồ
Khối cuối cùng lo những thứ không trực tiếp làm xe chạy hay nâng: đèn chiếu sáng, đèn báo rẽ, còi, đồng hồ báo mức bình hoặc màn hình hiển thị giờ chạy và mã lỗi. Dòng điện ở đây nhỏ, thường cấp qua một cầu chì phụ riêng, để một lỗi chập ở đèn hay còi không làm cả xe mất điện động lực, và ngược lại, đèn còi vẫn chạy tốt không có nghĩa khối công suất đang ổn. Khi chẩn đoán, khối phụ thường được xem sau cùng, trừ trường hợp mất hẳn màn hình khiến bạn không đọc được mã lỗi báo ra từ ba khối còn lại.
Ký hiệu hay gặp trên sơ đồ, và vì sao mỗi hãng vẽ khác nhau
Một sơ đồ đúng chuẩn luôn kèm bảng tra ký hiệu riêng, và việc đầu tiên khi cầm một sơ đồ lạ là tra bảng đó trước, đừng đoán theo trí nhớ từ sơ đồ khác. Dù vậy, có vài ký hiệu gần như lúc nào cũng gặp. Cầu chì vẽ bằng hình chữ nhật hoặc đường zigzag kèm trị số dòng chịu được. Công tắc tơ và rơ le vẽ bằng một cuộn dây, gọi là cuộn hút, nối với các tiếp điểm riêng. Cảm biến vẽ bằng ô vuông hoặc hình tròn nhỏ kèm chữ viết tắt. Đi-ốt (diode, linh kiện chỉ cho dòng điện đi theo một chiều) vẽ bằng hình tam giác chỉ hướng kèm một vạch ngang, hay dùng để chặn dòng ngược lúc cuộn hút công tắc tơ ngừng cấp điện. Giắc nối được đánh số ở cả đầu đực và đầu cái để ghép đúng chân.
Chỗ dễ nhầm nhất là nghĩ hãng nào cũng dùng chung một bộ ký hiệu, một bộ mã màu dây, một cách đánh số giắc. Thực tế hòan toàn khác: mỗi hãng xe, mỗi nhà sản xuất bộ điều khiển có quy ước riêng, và quy ước đó còn khác nhau giữa các đời xe của cùng một hãng, cùng một tín hiệu có thể đổi màu dây ở model khác. Những điểm hay bị oxy hóa gây lỏng tiếp xúc, như cọc bình, giắc rút nhanh hay giắc cắm vào board, cũng được đánh số rất cụ thể trong tài liệu từng hãng, Việt Cường nói kỹ hơn trong bài giắc nối và dây điện xe nâng điện bị oxy hóa. Nguyên tắc sống còn, vì vậy, là luôn dùng đúng tài liệu của đúng hãng, đúng đời xe trong tay bạn, không suy từ sơ đồ hãng này sang hãng khác.
Cách lần theo mạch khi xe báo lỗi
Biết sơ đồ chia bốn khối mới là bước đầu. Việc hữu ích hơn là lần theo mạch đúng thứ tự khi xe có sự cố, để không tháo lung tung rồi đoán mò.
Bước đầu là gọi đúng tên triệu chứng, vì mỗi kiểu trỏ về một khối khác nhau. Xe không chạy và cũng không nâng thường nghiêng về khối công suất hoặc nguồn chung, vì cả hai chức năng cần dòng điện lớn từ cùng một nơi. Xe chỉ mất một chức năng, còn chức năng kia vẫn tốt, thì lỗi gần như chắc chắn nằm riêng ở nhánh bị mất. Bước hai là lần theo đúng đường tín hiệu của khối đã khoanh vùng, bước ba mới là đo, và chỉ đo ở đúng giắc nối hoặc tiếp điểm bước hai đã chỉ tới.
Lấy ví dụ ca xe vẫn nâng hạ tốt nhưng đạp ga không chạy. Vì nâng vẫn tốt, bạn khoanh ngay vào nhánh điều khiển xe chạy: cần số vào đúng nấc chưa, công tắc tơ chiều tiến hoặc lùi có nghe tiếng đóng không, bộ điều khiển có nhận đủ tín hiệu không. Việt Cường viết riêng quy trình lần theo ca này trong bài xe nâng điện không chạy, không di chuyển được, còn bốn kiểu hỏng của công tắc tơ được nói kỹ ở bài công tắc tơ xe nâng điện.
Ví dụ thứ hai, xe đang chạy bình thường, người lái vừa rời ghế một chút thì xe tự ngắt. Đây đúng chức năng của khối an toàn: công tắc ghế báo mất người lái, nhánh tín hiệu hở ra, bộ điều khiển lập tức khóa phần chạy và nâng lại. Việc cần làm không phải tháo máy, mà kiểm tra công tắc ghế và đường dây dẫn tới nó trước.
Những điều cấm khi đụng vào sơ đồ và mạch thật
Khoanh vùng đúng không có nghĩa bạn nên tự sửa mọi thứ. Có vài việc tuyệt đối không nên làm, vì hậu quả lớn hơn nhiều so với chi phí sửa đúng cách.
Không nối tắt công tắc an toàn cho nhanh việc, kiểu nối tắt công tắc ghế hay công tắc hành trình, vì làm vậy là tắt luôn lớp bảo vệ của chính người đang lái. Không nối tắt công tắc tơ hay ép tiếp điểm đóng cứng để qua lỗi tạm thời, vì tiếp điểm đóng cứng chính là kiểu hỏng nguy hiểm nhất, khiến xe tự chạy ngoài ý muốn.
Không tự đấu thêm dây hay rẽ nhánh ngoài những gì sơ đồ gốc ghi, dù chỉ để câu thêm một bóng đèn, vì một nhánh thêm ngoài thiết kế có thể làm cháy dây hoặc gây tín hiệu giả. Không thay cầu chì sai trị số, dù chỉ cao hơn một chút cho đỡ phải thay lại nhiều lần, vì làm vậy là bỏ luôn lớp bảo vệ, dây hoặc linh kiện sẽ cháy trước khi cầu chì kịp đứt.
Việt Cường là xưởng chuyên sửa chữa xe nâng điện, mạnh nhất ở đúng phần vừa nói: board điều khiển, motor, công tắc tơ, ắc quy và máy sạc. Chưa chắc lỗi nằm ở khối nào, hoặc cần đo đạc chính xác để không thay nhầm, bạn gọi 0908 557 122. Xưởng chúng tôi tại 856 Đỗ Mười (Quốc lộ 1A), P. Linh Xuân, TP.HCM. Bạn xem thêm các hạng mục khác tại trang sửa xe nâng điện của Việt Cường.
Câu hỏi thường gặp về sơ đồ mạch điện xe nâng điện
Xe nâng điện của tôi không có sẵn sơ đồ mạch điện, lấy ở đâu?
Sơ đồ gốc thường đi kèm tài liệu kỹ thuật của nhà sản xuất hoặc đại lý phân phối, theo đúng mã hiệu và đời máy. Nếu xe mua lại không còn tài liệu, bạn nên hỏi đại lý hoặc nơi sửa chữa có kinh nghiệm với đúng dòng xe đó, không dùng tạm sơ đồ của xe khác nhìn giống bên ngoài.
Vì sao hai xe cùng hãng mà sơ đồ lại khác nhau?
Vì mỗi đời máy, mỗi cấu hình bộ điều khiển có thể thay đổi cách đấu, thêm hoặc bớt vài công tắc, cảm biến theo tùy chọn trang bị. Một thay đổi nhỏ cũng đủ làm số giắc, màu dây lệch khỏi sơ đồ của đời trước.
Không có đồng hồ đo điện chuyên dụng thì có đọc sơ đồ để tự sửa được không?
Đọc sơ đồ để khoanh vùng đúng khối thì làm được mà không cần đồng hồ. Nhưng tới bước đo điện áp, đo sụt áp hay đo điện trở cuộn hút để kết luận đúng linh kiện hỏng thì cần đồng hồ đo và biết cách đo an toàn, nên đây là lúc nên gọi thợ.
Xe báo mã lỗi trên màn hình, mã đó có giúp xác định đúng khối mạch không?
Có, mã lỗi thường gắn với một cụm hoặc một tín hiệu cụ thể, giúp thu hẹp phạm vi tìm kiếm nhanh hơn so với chỉ dựa vào triệu chứng bên ngoài. Bạn nên ghi lại đúng mã hiển thị trước khi gọi thợ, vì đây là gợi ý sớm nhất chỉ ra đúng khối mạch cần kiểm tra.
