Dầu thủy lực thường bị coi là thứ vặt vãnh, đổ loại nào cũng được, hết thì châm thêm. Nhưng chính nó là chi tiết đi qua mọi bộ phận đắt tiền nhất của hệ nâng, nên dầu sai hoặc dầu bẩn sẽ âm thầm phá bơm, van và xy lanh cùng lúc. Bài này nói về cách chọn đúng độ nhớt, cách nhận ra dầu đã tới lúc thay, và những sai lầm khiến hệ thủy lực xuống cấp nhanh.
Xem Nhanh (Mục Lục)
Dầu thủy lực làm bốn việc cùng lúc
Nhiều người chỉ nghĩ tới việc thứ nhất, đó là truyền lực. Bơm nén dầu, dầu đẩy piston, càng nâng lên. Đây là công việc dễ thấy nhất nhưng không phải công việc duy nhất.
Việc thứ hai là bôi trơn. Dầu chảy qua bơm, qua các con trượt trong van, qua thành xy lanh, tạo màng dầu ngăn kim loại cọ trực tiếp vào kim loại. Màng dầu này mỏng và phụ thuộc hoàn toàn vào độ nhớt, đó là lý do đổ dầu loãng hơn khuyến cáo lại làm mòn nhanh dù xe vẫn chạy tốt trong thời gian đầu.
Việc thứ ba là làm mát. Dầu mang nhiệt sinh ra từ ma sát và từ phần năng lượng thất thoát về thùng để toả bớt ra ngoài. Thùng dầu thiếu hụt thì cùng một lượng dầu phải tuần hoàn nhiều vòng hơn, nhiệt tích lại nhanh hơn.
Việc thứ tư là bảo vệ bề mặt kim loại khỏi rỉ sét và mang cặn bẩn về lọc. Dầu tốt có các phụ gia làm việc này, và phụ gia thì cạn dần theo thời gian ngay cả khi dầu nhìn vẫn còn sạch. Đây là lý do dầu có tuổi thọ chứ không dùng mãi được.
Độ nhớt: con số quan trọng nhất khi chọn dầu
Trên can dầu thủy lực thường ghi ký hiệu dạng ISO VG kèm một con số, phổ biến là 32, 46 hoặc 68. Con số này cho biết dầu đặc hay loãng ở nhiệt độ chuẩn: số càng lớn thì dầu càng đặc.
Nguyên tắc chọn khá trực quan. Dầu quá loãng so với yêu cầu thì màng bôi trơn mỏng, dầu lọt qua các khe hở trong bơm và xy lanh nhiều hơn, hệ thống yếu đi và mòn nhanh. Dầu quá đặc thì bơm phải làm việc nặng, nhất là lúc khởi động khi dầu còn nguội, và motor bơm ăn dòng lớn hơn mức cần.
Điều đáng lưu ý là độ nhớt thay đổi rất nhiều theo nhiệt độ. Cùng một loại dầu, lúc nguội đặc hơn hẳn lúc đã làm việc nóng lên. Vì vậy khí hậu nơi xe làm việc ảnh hưởng trực tiếp tới lựa chọn: kho lạnh cần dầu loãng hơn để khởi động nhẹ, còn xe làm việc liên tục trong môi trường nóng thì cần dầu đủ đặc để giữ được màng bôi trơn khi dầu đã nóng.
Cách chọn đúng nhất vẫn là tra khuyến cáo của hãng theo đúng đời máy. Sách hướng dẫn hoặc tem dán tại thùng dầu thường ghi rõ loại dầu và độ nhớt. Đừng chọn theo thói quen của xe khác trong kho, vì hai xe khác dòng có thể yêu cầu khác nhau. Khi không tìm được tài liệu, hãy hỏi đơn vị sửa chữa thay vì đoán, bởi hậu quả của việc chọn sai không lộ ra ngay mà tích lại trong nhiều tháng.
Nhìn dầu là biết tình trạng
Kiểm tra dầu không cần thiết bị. Lấy que thăm hoặc mở nắp thùng, nhỏ ít dầu lên một tờ giấy trắng rồi quan sát dưới ánh sáng:
- Trong, màu vàng nhạt hoặc hơi hổ phách: dầu còn tốt.
- Sẫm màu, ngả nâu đen: dầu đã bị oxy hoá do làm việc lâu ở nhiệt độ cao. Kèm mùi khét thì nên thay, đừng chờ tới hạn.
- Đục như nước gạo hoặc như sữa: dầu đã lẫn nước. Đây là tình trạng cần xử lý sớm vì nước làm mất khả năng bôi trơn và gây rỉ sét bên trong. Nước thường vào qua nắp thùng hở, qua phốt hỏng, hoặc do hơi ẩm ngưng tụ ở kho lạnh.
- Nổi bọt trắng trên mặt: có khí lẫn trong dầu, thường do mức dầu thấp hoặc đường hút hở. Xem thêm bài bơm thủy lực xe nâng kêu to, nâng yếu.
- Có hạt lấp lánh khi nghiêng giấy: mạt kim loại. Dấu hiệu nghiêm trọng, nghĩa là có bộ phận nào đó đang mòn nhanh. Cần tìm ra nguồn mạt trước khi thay dầu, nếu không dầu mới cũng nhiễm bẩn ngay.
- Sờ thấy nhớt dính bất thường hoặc có cặn lắng: dầu đã biến chất.
Nên kiểm tra bằng mắt định kỳ và ghi lại, vì cái đáng chú ý là xu hướng. Dầu sẫm dần qua vài lần kiểm tra liên tiếp cho biết nhiều điều hơn một lần nhìn đơn lẻ.
Khi nào thay dầu
Có hai cách xác định và nên dùng cả hai. Cách thứ nhất là theo số giờ vận hành mà hãng quy định cho đời máy đó, đây là mốc mặc định khi mọi thứ bình thường. Cách thứ hai là theo tình trạng thực tế, tức là những dấu hiệu vừa nêu ở trên, và cách này được ưu tiên khi hai bên mâu thuẫn.
Có mấy tình huống cần thay sớm hơn lịch: dầu lẫn nước, phát hiện mạt kim loại, dầu có mùi khét, hoặc vừa sửa chữa lớn một bộ phận thủy lực nào đó. Trường hợp cuối hay bị bỏ qua: khi một bơm hay xy lanh hỏng, mảnh vụn từ nó đã đi khắp hệ thống, nên sửa xong mà giữ nguyên dầu cũ là gieo sẵn mầm hỏng cho bộ phận vừa thay.
Môi trường làm việc cũng rút ngắn chu kỳ. Kho nhiều bụi, xe làm việc ngoài trời, làm nhiều ca liên tục hoặc thường xuyên nâng tải nặng đều khiến dầu xuống cấp nhanh hơn mức tính toán ban đầu của hãng.
Thay dầu đúng cách
Việc thay dầu không chỉ là xả cũ đổ mới. Vài điểm quyết định chất lượng của lần thay:
Xả khi dầu còn ấm. Dầu ấm loãng hơn nên cuốn theo được nhiều cặn lắng, xả lúc nguội sẽ để lại phần cặn nằm dưới đáy thùng.
Vệ sinh thùng dầu. Cặn bẩn tích tụ dưới đáy sẽ hoà ngay vào dầu mới nếu không lau sạch, khiến dầu mới bẩn chỉ sau vài giờ chạy.
Thay lọc cùng lúc. Đây là chỗ hay bị tiếc tiền nhất mà lại thiệt nhiều nhất. Lọc cũ đã bám đầy cặn sẽ tiếp tục nhả bẩn vào dầu mới, hoặc tắc tới mức làm bơm hút khó.
Không trộn hai loại dầu khác nhau. Các gói phụ gia của những hãng khác nhau có thể phản ứng với nhau, tạo cặn hoặc làm mất tác dụng của cả hai. Buộc phải đổi sang loại khác thì nên xả sạch hoàn toàn chứ đừng châm chồng lên.
Xả khí sau khi thay. Nâng hạ hết hành trình vài lần không tải để đẩy khí ra, sau đó kiểm tra lại mức dầu vì mức sẽ hạ xuống khi dầu đã điền đầy đường ống và xy lanh.
Kiểm tra mức dầu ở đúng tư thế. Càng phải hạ hết xuống và khung để thẳng, vì khi càng nâng cao thì một lượng dầu đang nằm trong xy lanh, đo lúc đó sẽ thấy thiếu giả tạo và dễ dẫn tới châm quá đầy.
Dầu bẩn phá hỏng những gì
Hiểu được hậu quả sẽ thấy tiền dầu và tiền lọc là khoản rẻ. Hạt bẩn cứng đi cùng dầu vào bơm sẽ cào xước bề mặt bánh răng và vỏ bơm, khe hở rộng ra, bơm yếu dần. Cũng hạt bẩn đó chèn vào giữa con trượt và thân van làm van kẹt hoặc đóng không kín, sinh ra hiện tượng càng tự tụt hoặc khung tự trôi.
Trong xy lanh, hạt bẩn bị cuốn theo cần piston sẽ cào thành xy lanh thành rãnh dọc, và chính rãnh đó cắt hỏng phốt nhanh hơn nhiều lần bình thường. Đây là lý do có những xe vừa thay phốt vài tháng đã tụt càng trở lại, xem bài càng nâng tự tụt khi đang giữ tải.
Với xe nâng điện còn thêm một hệ quả về tiền điện và tiền bình: dầu bẩn hoặc sai độ nhớt làm bơm nặng hơn, motor bơm ăn dòng lớn hơn cho mỗi lần nâng, bình tụt nhanh hơn và tuổi thọ bình giảm theo. Xem bài xe nâng điện tụt bình nhanh.
Câu hỏi thường gặp về dầu thủy lực xe nâng
Dầu thủy lực và dầu nhớt động cơ có dùng thay nhau được không?
Không nên. Hai loại được pha chế cho hai nhiệm vụ khác nhau, gói phụ gia cũng khác. Dầu động cơ chứa các phụ gia dành cho môi trường cháy, không phù hợp với hệ thủy lực và có thể gây tạo bọt.
Dầu vơi thì châm thêm có sao không?
Châm bù cùng loại thì được và đôi khi cần thiết, nhưng phải hỏi vì sao dầu vơi. Hệ thủy lực là hệ kín nên dầu không tự hao, vơi nghĩa là đang rò ở đâu đó. Chỉ châm mà không tìm chỗ rò là bỏ qua nguyên nhân.
Đổ đầy hơn mức tối đa cho chắc có tốt không?
Không. Thùng dầu cần khoảng trống để dầu tách khí và giãn nở khi nóng. Đổ quá đầy gây trào qua nắp thông hơi, làm bẩn xe và mất dầu.
Dầu vẫn còn trong và chưa tới hạn giờ thì có cần thay không?
Màu sắc chỉ phản ánh một phần. Phụ gia chống oxy hoá và chống mài mòn cạn dần theo thời gian ngay cả khi dầu nhìn còn đẹp, nhất là với dầu đã để lâu trong xe ít sử dụng. Với xe chạy ít, nên tính theo mốc thời gian thay vì chỉ theo giờ máy.
Việt Cường hỗ trợ về hệ thủy lực xe nâng
Việt Cường chuyên sửa chữa xe nâng điện, nhận thay dầu và lọc thủy lực, kiểm tra tình trạng dầu, đo áp suất hệ thống và xử lý các hư hỏng liên quan như bơm mòn, van rò, xy lanh tụt. Khi thay dầu, chúng tôi kiểm tra luôn nguyên nhân khiến dầu xuống cấp nhanh thay vì chỉ đổi dầu mới.
Bạn cần tư vấn chọn dầu đúng loại cho xe của mình hoặc muốn kiểm tra tình trạng hệ thủy lực, hãy gọi 0908 557 122. Xem thêm lịch bảo dưỡng ở bài bảo dưỡng và bảo trì xe nâng điện đúng cách và các hạng mục tại trang dịch vụ sửa xe nâng.
Công Ty TNHH Xe Nâng Việt Cường, xưởng sửa chữa tại 856 Đỗ Mười (Quốc lộ 1A), P. Linh Xuân, TP.HCM.
